Triển lãm Mỹ thuật khu vực Đồng bằng Sông Hồng lần thứ XXI - Hải Phòng 2016

Triển lãm giới thiệu 222 tác phẩm mỹ thuật của 213 tác giả, trong đó có 88 tác phẩm của 79 tác giả là hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam; 134 tác phẩm của 134 tác giả là hội viên và chưa là hội viên các tỉnh, thành phố Hải Phòng, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh, Thái Bình.
Hội đồng nghệ thuật của Hội Mỹ thuật Việt Nam đã chọn ra 9 tác phẩm để trao giải, trong đó có 1 giải A, 1 giải B, 1 giải C và 6 giải khuyến khích:

Giải A
Nguyễn Quốc Việt (Thái Bình)
Trước giờ biểu diễn - Acrylic (110cm x 170cm) 2016


Giải B
Đặng Tiến (1963, Hải Phòng)
Mùa cây thay lá - Sơn dầu (120cm x 150cm) - 2016


Giải C
Nguyễn Viết Thắng (1973, Hải Phòng)
Công chúa - Gốm (59cm x 39cm x 25cm) 2016


Giải Khuyến khích
Quốc Thái (1943, Hải Phòng)
Ấn tượng Sa Pa - Sơn dầu (120cm x 160cm) 2016


Giải Khuyến khích
Đỗ Chuyển (1950, Hải Dương)
Gạo xuất khẩu - Sơn dầu (120cm x 150cm) 2016


Giải Khuyến khích
Phạm Quang Vinh (1980, Nam Định)
Bò mới về bản em - Sơn dầu (110cm x 140cm)


Giải Khuyến khích
Nguyễn Ngần (1969, Hà Nam)
Mưa đồng chiêm - Khắc gỗ (130cm x 62cm)


Giải Khuyến khích
Nguyễn Tuấn Long (1969, Hà Nam)
Trạm  kiểm định - Màu bột (130cm x 60cm)


Giải Khuyến khích
Lê Quảng Cương (Quảng Ninh)
Gia đình thời hiện đại - ĐK tổng hợp (38x54cm)


Kù Kao Khải (Ninh Bình)
Chuyện quê 20 - Gỗ, sơn, sắt (200x170x200cm) 2016


Phạm Văn Thuận (1980, Hải Phòng)
Khoảng cách - Khắc gỗ mộc bản (150cm x 120cm) 2016


Trần Vinh (1959, Hải Phòng)
Tĩnh vật - Acrylic (70cm x 80cm)


Trần Quang Huân (1965, Hải Phòng)
Thiếu nữ - Sơn dầu (100cm x 80cm) 2016


Việt Anh (1969, Hải Phòng)
Vũ điệu 2016 - Lụa (85cm x 180cm) - 2016


Nguyễn Trọng Khải (1951, Hải Phòng)
Nắng sớm - Sơn dầu (50cm x 60cm) - 2016


Phạm Ngọc Lâm (1940, Hải Phòng)
Niêm vui đổi đời - Đồng, gỗ... (200cm x 200cm) 2016


Bùi Văn Lãng (1958, Hải Phòng)
Em bé chăn vịt ngủ quên - Composit (70x120x120cm) 2016


Đặng Thành Long (1954, Hải Dương)
Mùa đông Bắc Hà - ĐK Gỗ gạo (H65cm)


Ngô  Kông Chuẩn (Thái Bình)
Nước mắt biển khơi - ĐK Gỗ (H70cm)


Trần Ngọc Minh (1969, Hà Nam)
Thành viên đội múa sen dâng Bác - Lụa (112cm x 85cm)


Trần Văn Thăng (1977, Nam Định)
Không gian xanh - Lụa (150cm x 75cm)



Phan Hùng (Bắc Ninh)
Liền chị - Sơn mài (100cm x 150cm)


Nguyễn Văn Thuật (Bắc Ninh)
Khoe sắc - Sơn mài (120cm x 180cm)


Phan Quang Tuấn (1981, Hải Phòng)
Làng Thổ Hà - Sơn mài (130x170cm) 2015


Vũ Quý (Quảng Ninh)
Sau buổi bắt cá - Sơn dầu (95cm x 120cm)


Lê Hướng Quỳ (1944, Hải Dương)
Lo âu miền chân sóng - Acrylic (81cm x 117cm)


Trịnh Lễ (Bắc Ninh)
Mời trầu - Sơn mài (80cm x 110cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)



Nguyễn Minh Nam (Bắc Ninh)
Ký ức 2016 - Sơn dầu (120cm x 160cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)


Nguyễn Tiến Quân (1978, Hải Dương)
Thuyền - Sơn dầu (120cm x 120cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)



Phạm Ngọc Dũng (1971, Hải Phòng)
Tháp đôi - Đồng (H200cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)



Đoàn Văn Đức (1980, Hải Phòng)
Nhịp nối - Sơn dầu (60x80cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)


 Phạm Ngọc Cường (1980, Hải Phòng)
Cơn dông - Sơn dầu (120x120cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)


Phạm Minh Đức (1977, Hải Phòng)
Bến đậu - Sơn dầu (150x150cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)


 Phạm Anh Tuấn (1981, Hải Phòng)
Phía đối diện - Sơn dầu (100x120cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)


Quốc Thắng (1976, Hải Phòng)
Tam Bạc một sớm mùa thu - Sơn dầu (77x107cm)
(Tác phẩm được giới thiệu tham dự giải thưởng của UBTQ LH các hội VHNT Việt Nam)

(Đang cập nhật, còn nữa)

Đêm Hải Phòng

HÀ LINH QUÂN
(Báo Lao Động 194/2016)

Tôi là một người thích sống dưới nắng mặt trời, bởi khi chết rồi có khối thời gian để mà thưởng thức bóng tối. Do vậy, tôi chẳng sướng gì khi nhận được cú điện thoại lúc 10 giờ đêm: “Cháu đang ở trong Đà Nẵng. Thành phố như một bầu trời chi chít ánh sao! Trông nung ninh lắm chú ạ!”. Chết tiệt! Cái bệnh nói ngọng của nhiều người Hải Phòng, suốt đời lầm lẫn giữa n và l. Mà nó lại tưởng Hải Phòng không lung linh sao?


Sông Tam Bạc - Nguồn cảm hứng của rất nhiều nhà thơ, họa sĩ. Ảnh: TRẦN SƠN

Con đường ánh sáng

Đêm bắt đầu mọc lên từ mặt đất. Thành phố bắt đầu từ phía ngoại ô. Con đường chạy từ sân bay Cát Bi về quảng trường Nhà hát Lớn ngập trong 15 tỉ đồng ánh sáng. Đó là giá trị của bản dự án “chiếu sáng trang trí” mà sở Văn hóa - Thể thao - Du lịch Hải Phòng ký với nhà thầu Sơn Lâm - Nhà thầu đã được chọn cho công trình Nhạc nước nổi tiếng trên hồ Tam Bạc. Những chiếc nón điện, bông hoa phượng điện, con cá và cánh buồm điện thô kệch, quê mùa, đáng để trang trí phố huyện lại được các nhà văn hóa Hải Phòng đem dăng ra khắp phố phường, nhìn vào chỉ thấy chói chang. Những dòng ánh sáng cào vào đêm tối như những móng vuốt của một con mèo!


"Nếu thoát, những bức tranh này đã được rửa"

Chiều 25.7, họa sĩ Thành Chương đã chính thức gửi đơn tố cáo và kiến nghị tới 9 cơ quan chức năng xoay quanh vấn đề bức tranh "Trừu tượng" bị mạo danh.
* Được biết chiều qua họa sĩ đã gửi đơn tố cáo và kiến nghị cho A87 Cục An ninh văn hóa (Hà Nội), Cục Bản quyền tác giả (Hà Nội), Hội Mỹ thuật Việt Nam (Hà Nội), Bộ Thông tin Truyền thông (Hà Nội), Cục Mỹ thuật Nhiếp ảnh và Triển lãm (Hà Nội), Sở Văn hóa Thể thao TP.HCM, Công an TP.HCM, Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM, Hội Mỹ thuật TP.HCM. Vậy xin họa sĩ cho biết nội dung lá đơn cùng những kiến nghị đó?

Họa sĩ Thành Chương rất phiền lòng về bức tranh bị mạo danh
ẢNH: NVCC
- Trước hết tôi xin nói về lý do khiến tôi quyết định làm đơn tố cáo này để bạn đọc nói chung cũng như giới hội họa nói riêng hiểu rõ: Như các bạn biết, ngày 19.7 vừa qua sau khi Hội đồng thẩm định và ra kết luận, đề nghị tạm giữ toàn bộ 17 bức tranh giả và mạo danh để phục vụ công tác điều tra, thì ngày 21.7 báo chí đưa tin toàn bộ số tranh giả đã được đàng hoàng đưa về với chủ, kể cả bức tranh giả danh họa sĩ Tạ Tỵ mà tôi là bằng chứng.
Dư luận cảm thấy rất khó hiểu và bất bình. Về mặt thủ tục, tôi cần phải gửi một lá đơn nữa tố cáo về hành vi có dấu hiệu phạm tội làm hàng giả, và xâm phạm bản quyền tác giả để thúc đẩy các cơ quan chức năng làm việc. Nếu việc phát hiện ra bức tranh của tôi giả danh họa sĩ Tạ Tỵ là một sự việc đơn lẻ thì có lẽ tôi chỉ cần công bố như đã làm là đủ.
Nhưng nó nằm trong bối cảnh cả một khối lượng lớn những bức tranh danh giá, trưng bày công khai trong bảo tàng quốc gia, với chứng thực là hàng thật, nguyên gốc, của chuyên gia nước ngoài, nay có thêm danh đã triển lãm ở bảo tàng quốc gia. Những bức tranh được làm giả xấu đến trắng trợn, nhạo báng toàn thể giới mỹ thuật Việt Nam, gây nguy hiểm với thẩm mỹ và giáo dục thẩm mỹ của chính người xem trong nước. Họ nghĩ tranh “xấu” như thế mà là kiệt tác đấy. Và hàng giả thì không thể để lưu hành thị trường được. Đó là điều tối thiểu.
Vậy nên sau khi xem xét và cân nhắc, tôi quyết định gửi lá đơn này để thể hiện tinh thần trách nhiệm và lương tâm của mình trước vụ việc. Không thể thờ ơ, im lặng được.
Nội dung lá đơn trình bày ngắn gọn lại sự việc diễn ra kể từ khi tôi phát hiện ra bức tranh Trừu tượng mang tên cố họa sĩ Tạ Tỵ trong triển lãm Những bức tranh trở về từ châu Âu tại Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM vừa qua, cho đến cuộc họp khẩn cấp của Hội đồng mỹ thuật đánh giá lại toàn bộ triển lãm, đến kết luận của toàn thể hội đồng. Và đề nghị các cơ quan chức năng có thẩm quyền điều tra.

* Theo họa sĩ, sự việc này nên gọi là gì và nên xử lý ra sao?

- Khi hội đồng đã thẩm định 100% tranh của các danh họa trong triển lãm là tranh giả, và giả danh, và số tài sản này có giá trị mua bán lớn, từ nước ngoài chuyển về, với chứng thực hàng nguyên bản của chuyên gia nước ngoài thì đây hoàn toàn là một vụ việc lớn. Nếu thoát, thì rõ ràng những bức tranh này đã được “rửa”. Tranh giả cũng như hàng giả, tôi nghĩ các cơ quan chức năng không khó gì để xử lý theo đúng pháp luật khi muốn xử lý.

* Có phải họa sĩ định đòi lại quyền nhân thân cho bức "Trừu tượng" theo điều 19 luật Sở hữu trí tuệ?

- Trên thực tế, bức tranh có tên Trừu tượng đề tên cố họa sĩ Tạ Tỵ. Cụ thể là Tạ Tỵ 52. Về phía gia đình của họa sĩ Tạ Tỵ cũng đã khẳng định: đây không phải là tranh do ông vẽ và chữ ký Tạ Tỵ cũng là giả mạo. Họ cũng muốn làm rõ sự việc này, là xóa tên của ông khỏi bức tranh. Vậy gia đình họa sĩ Tạ Tỵ nên khởi kiện thì đúng đắn hơn tôi. Tôi là bằng chứng, nhân chứng cho gia đình ông. Ở vị trí của tôi, thủ tục cần và đủ là phải có đơn tố cáo sự việc để các cơ quan chức năng làm cơ sở cho việc tiến hành thanh tra, điều tra làm rõ.

* Qua sự việc trên, họa sĩ muốn nhắn gửi gì cho giới họa sĩ và sưu tập tranh Việt?

- Như tôi đã nói ở trên, việc lấy lại tên tuổi của tôi cho bức tranh này thực là việc nhỏ, nhưng mang một ý nghĩa lớn. Ở hoàn cảnh tôi vô tình trở thành một bằng chứng, nhân chứng của một vụ giả mạo lớn tầm cỡ quốc tế, gây tác động nghiêm trọng tới bộ mặt mỹ thuật Việt Nam đang nỗ lực khẳng định tên tuổi và vị thế của mình vươn ra thế giới, thì việc tôi lên tiếng cần được giới hội họa hiểu đúng và tôn trọng, đồng thời ủng hộ một cách nghiêm túc.
Trong việc này, một mình tôi thì không đủ sức. Tiếng nói đồng thuận và hành động thiết thực của giới mỹ thuật mới là sức mạnh... Nếu ai cũng chọn im lặng, kêu ca than phiền mà coi việc này không phải là của mình thì nền mỹ thuật của chúng ta không chỉ “chết” mà xã hội còn thêm khủng hoảng.

* Cám ơn họa sĩ!

Lucy Nguyễn thực hiện

Theo luật sư Nguyễn Hữu Đức (chi nhánh Luật Sài Gòn 5), đồng thời cũng là con rể họa sĩ Tạ Tỵ: Bức Trừu tượng bị mạo danh đối với gia đình tôi là sự xâm phạm quyền tác giả, và đối với họa sĩ Thành Chương là xâm phạm quyền tác giả theo luật Sở hữu trí tuệ:
Điều 9. Quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Tổ chức, cá nhân có quyền áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để tự bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ của mình và có trách nhiệm tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhân khác theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan.  
Điều 18. Quyền tác giả. Quyền tác giả đối với tác phẩm quy định tại Luật này bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản.
Điều 19. Quyền nhân thân
Quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây:
 
1. Đặt tên cho tác phẩm; 
2. Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; được nêu tên thật hoặc bút danh khi tác phẩm được công bố, sử dụng; 
3. Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; 
4. Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
Điều 28. Hành vi xâm phạm quyền tác giả
 1. Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. 
2. Mạo danh tác giả. 
5. Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. 
6. Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, trừ trường hợp quy định tại điểm a và điểm đ khoản 1 Điều 25 của Luật này. 
15. Làm và bán tác phẩm mà chữ ký của tác giả bị giả mạo.
--------------------
(Theo Tienphong.vn)

GIẢ LÈ RA, CÒN CHÀY CỐI

Hà Nhì

Có người hỏi Picasso: “Thế nào là một kỳ tích của hội họa?” Picasso đã trả lời: “Khi sống, Rubens vẽ 2000 bức tranh. Và sau khi ông chết đi, con số đó là 4000”.
Sinh thời, Lưu Công Nhân cũng đã từng nói: “Tôi phải vẽ thật, thật nhiều tranh”. Rồi ông giải thích: “Để làm luôn phần của bọn sẽ làm giả tranh tôi”.
Vậy mà, sau khi Lưu Công Nhân chết chưa đầy 10 năm, đã thấy nhan nhản tranh giả “Lưu Công Nhân” xuất hiện.
… Nguyễn Tư Nghiêm là họa sĩ Việt Nam bị làm giả tranh ngay từ lúc ông còn sống. Chắc chắn, bởi vì Nguyễn Tư Nghiêm sống quá lâu, ông thọ tới 99 tuổi, mà bọn làm giả “háu ăn” thì không bao giờ biết đợi. Một lần, Nguyễn Tư Nghiêm tình cờ ghé vào xem một gallery, và thấy có rất nhiều tranh “Nguyễn Tư Nghiêm” bày ở đó. Ông liền bảo với ông chủ tranh, bằng giọng xứ Nghệ: “Đây không phải là tranh Nguyễn Tư Nghiêm”. Ông chủ trợn mắt, hỏi: “Ông là ai?” Nguyễn Tư Nghiêm trả lời: “Tôi là Nguyễn Tư Nghiêm”… Thế là ông chủ tranh lảng đi, lặng thinh, không nói thêm gì nữa…
Có lần, Nguyễn Tư Nghiêm nói: “Để bán được tranh, người nghệ sĩ cần có một cái tên. Và bọn làm giả tranh cũng lợi dụng vào điều đó.”

* * *

Về tranh giả, trên thế giới, người ta chia thành hai loại: 1. Tranh giả (faux) và 2. Tranh nửa giả (demi-faux). Tranh nửa giả là tranh giả (theo nhiều cách), nhưng chữ ký là thật. Chẳng hạn một số tranh của Corot và của Salvador Dalí. Sinh thời, Corot (còn được gọi là “cha Corot” nhân từ) đã từng giúp một số họa sĩ nghèo bán được tranh bằng cách tự tay ký tên của ông lên tác phẩm của họ. Hiện ở Mỹ có khá nhiều bức “Corot” nửa giả, và lạ thay, chúng rất được trân trọng. Dalí thì thậm chí đã kiếm tiền bằng cách “ký khống” lên hàng ngàn tờ giấy trắng để bọn làm giả sau đó thực hiện tiếp những bức tranh nửa giả mang tên ông…
Điều cần phải nhấn mạnh ở đây là cần phân biệt giữa tranh giả và tranh chép (copie). Tranh chép là một thể loại “hợp pháp” nếu nó có cùng kỹ thuật, chất liệu và không trùng kích thước với tác phẩm gốc, nhằm mục đích nghiên cứu, học tập, giảng dạy; hoặc để lưu trữ trong thư viện với mục đích nghiên cứu; hoặc phải được sự đồng ý của tác giả và phải có chú thích là bản sao.

* * *

Tranh giả thông thường xuất hiện ở ba dạng:
1. “Chép tự do”, tức là vẽ phỏng theo, có thêm bớt, một bức tranh thật để tạo ra một phiên bản (version) phái sinh.
2. “Bố cục trích đoạn”, tức là lấy một phần hoặc mượn một vài mô-típ nào đó của bức tranh thật để tạo ra một biến tấu (variation).
3. “Sáng tác”, “xào xáo” dựa trên phong cách học, tức là nghiên cứu phong cách, bút pháp, hệ thống đề tài và kỹ thuật thể hiện của một tác giả để tạo ra những bức tranh hoàn toàn mới.

Riêng ở nước ta, còn có thêm một dạng làm giả nữa - là - “chuyển chất liệu”, tức là chuyển một bức tranh gốc từ chất liệu này sang chất liệu khác để tạo ra một phiên bản mới. Hoặc chuyển một phác thảo gốc chưa sử dụng, một hình họa, một ký họa gốc thành tranh, và ngược lại.
Một bức tranh có chữ ký xác thực của tác giả này nếu bị thay thế bởi chữ ký giả của tác giả khác, hoặc một bức tranh không có chữ ký và không xác định được tác giả nếu bị “áp đặt” bởi một chữ ký giả nào đó - cũng có thể được xem là tranh giả. Việc áp đặt tác quyền cho một tác giả nào đó đối với một tác phẩm chưa xác định chính xác được tác giả (như trường hợp bức tranh "Bình văn" của "Lê Văn Miến" hiện treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) - cũng hàm chứa nguy cơ công nhận một tác phẩm giả đứng tên tác giả đó.
Tranh giả, về căn bản, bắt đầu xuất hiện ở nước ta vào những năm 1990, khi thị trường tranh bắt đầu trở nên sôi động. Kể từ đó đến nay, Bùi Xuân Phái vẫn là họa sĩ bị làm giả nhiều nhất, thậm chí đã có cả tranh giả Bùi Xuân Phái bằng sơn mài, là chất liệu Bùi Xuân Phái không bao giờ sử dụng.
Nếu trước đây, bọn đầu nậu làm tranh giả thường thuê các họa sĩ “rất có chuyên môn” (thậm chí rất nổi tiếng) để làm giả tranh - thì nay - những người được chúng thuê thường rất yếu tay nghề, thậm chí bọn đầu nậu còn “tự” làm lấy, với kết quả... rất “kinh dị”!!!
Và, điển hình cho những bức tranh giả theo đủ các thể loại nói trên - chính - là - một vài bức tranh đã được trưng bày công khai mới đây tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

* * *

Nghe nói, tại triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” có 17 bức tranh. Và cũng nghe nói, dư luận đã cho rằng, trong số đó có 15 bức là giả và có 2 bức thật/giả 50/50?!
Các nhà báo, các công dân mạng vào cuộc dữ dội. Theo thông lệ, họ truy tìm nguồn gốc, lai lịch của các bức tranh. Và các ông chủ tranh, như đã được chuẩn bị sẵn, thì ra sức cãi chày cãi cối. Trong khi, sự thật về các bức tranh, thường xuyên và bao giờ, cũng chủ yếu nằm trên bề mặt của chính các bức tranh.
Vì còn thiếu thông tin, và nhất là không được xem trực tiếp, ở bài viết này, người viết chỉ tạm thời đưa ra mấy nhận định ban đầu như sau:

1. Bức tranh sơn mài “Nguyễn Du đi câu” trưng bày ở đây là một bản chép, và không hề chắc chắn là một “bản chép” của tác giả Nguyễn Tiến Chung. Nếu quy nó thành một tác phẩm của Nguyễn Tiến Chung thì hiển nhiên nó phải bị nghi vấn là một tranh giả.
Trên thực tế, tác phẩm này chỉ có ba bản chắc chắn: một bản hiện treo ở Khu lưu niệm Nguyễn Du (xã Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh, thành lập từ 1965), đã bị hư hỏng nặng; một bản treo ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, và một bản vốn thuộc sưu tập của bà Bội Trân ở Huế.
Cả ba bản “Nguyễn Du đi câu” này đều do họa sĩ Đặng Thị Hồng Hải (cháu gọi Nguyễn Tiến Chung là bác ruột) thể hiện, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của tác giả Nguyễn Tiến Chung.
Sẽ không có vấn đề gì, nếu bức tranh sơn mài “Nguyễn Du đi câu” hồi hương từ châu Âu được ghi rõ là một bản chép từ một tác phẩm gốc cùng tên của tác giả Nguyễn Tiến Chung. (Và nếu xác định được nó chính là bản đã được chuyển giao từ bà Bội Trân ở Huế, với điều kiện nó vẫn còn là bản do họa sĩ Hồng Hải thực hiện - thì nó có thể được xem là tranh thật).

2. Bức tranh sơn mài “Ba cô gái” có chữ ký “Dương Bích Liên” chắc chắn là tranh giả.

Dương Bích Liên - Mùa thu thiếu nữ (130x180cm) 1980

Đây hẳn nhiên là một bức tranh đã bị những kẻ làm giả “chuyển chất liệu” từ bức tranh sơn dầu “Mùa thu thiếu nữ” của Dương Bích Liên, daté 1980, khuôn khổ 130x180cm.
Năm 1993, bức tranh sơn dầu này lần đầu tiên được in trong cuốn “Các họa sĩ Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương”, và khi đó nó vẫn còn nằm trong sưu tập của ông Nguyễn Hào Hải ở xóm Hà Hồi, Hà Nội.
Cách đây mấy năm, ông Hào Hải cho biết: bức “Mùa thu thiếu nữ” đã bị hỏng nặng, khó có khả năng cứu chữa.
(Trên báo Thể thao & Văn hóa, số ra ngày 11-7-2016, ông Hào Hải gọi bức tranh này là “Mùa xuân và thiếu nữ” là không đúng với tinh thần của bức tranh. Riêng thông tin của ông Hải về sự tồn tại của một bản “Mùa thu thiếu nữ” nào đó của chính tác giả Dương Bích Liên và cũng là bản duy nhất bằng chất liệu sơn mài, hiện nằm trong Bảo tàng Đức Minh - là một thông tin vô cùng “mới” và “lạ”, đặc biệt đối với những người thông thạo về sự nghiệp của Dương Bích Liên).
Về lý thuyết, việc chuyển một bức tranh sơn dầu sang một bức tranh sơn mài, với hiệu quả “tương đương”, luôn luôn khả khi. Đúng như Nguyễn Tư Nghiêm từng nói: “Cái gì sơn dầu làm được thì sơn mài cũng làm được”.
Tuy nhiên, những kẻ làm giả, trong trường hợp này, đã táo tợn thực hiện việc làm giả bằng thủ pháp “chép tự do”, mà không hề nghiên cứu phong cách hội họa của Dương Bích Liên nói chung và phong cách vẽ sơn mài của Dương Bích Liên nói riêng.

Tranh sơn mài Ba cô gái trưng bày tại triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu"

Không cần đối chiếu với tác phẩm gốc - thì - người xem vẫn có thể thấy đây là một bức tranh rất tồi. Nó ở vào thế “loạn thần”, pha trộn giữa lối vẽ theo độ (valeurs), có vờn nhẹ, và lối vẽ phẳng (aplats), gây cảm giác vằn vện, với những đường nét vụng về, ngây ngô, tùy tiện.
Cô gái ngồi bên trái tranh như bị cụt một tay, chân thì bị chôn chặt xuống mặt đất, mặt thì rơi ra (xem minh họa).
Hay là “Ba cô gái” này đã được Dương Bích Liên “vẽ trong một cơn ác mộng”?!

3. Về bức tranh sơn mài “Vườn chuối”.

"Vườn chuối" - Sơn mài của Nguyễn Sáng thuộc sở hữu của Công ty Tàu biển Hải Phòng.

Bức tranh sơn mài “Vườn chuối” được Nguyễn Sáng vẽ năm 1981, khổ 120 x 180cm, theo đề nghị của Công ty Tàu biển Hải Phòng. Tháng 7 năm 1984, tại “Triển lãm tác phẩm hội họa của họa sĩ Nguyễn Sáng”, tổ chức tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, bức tranh này đã được ban tổ chức mượn về để trưng bày. Và kể từ đó đến nay (2016), nó vẫn thuộc sở hữu của Công ty Tàu biển Hải Phòng.
Bức “Vườn chuối” là một “bố cục diễn tả tâm tình” (composition intime), lấy hình tượng hai thiếu nữ đang đọc sách cho nhau nghe làm “tâm điểm”, những hình tượng khác chỉ làm nền cho bức tranh. Quyển sách, ở đây, nói theo Salvador Dalí - chính là cái “tâm của vũ trụ”, và sự “đối lập” giữa hai cô gái sẽ hướng con mắt người xem nhìn xuyên qua cái tâm ấy.

Tranh sơn mài Vườn chuối trưng bày tại triển lãm "Những bức tranh trở về từ châu Âu". 
Đường vạch trắng dùng để đánh dấu lỗi sơ đẳng về bố cục của những kẻ làm giả tranh.

Tương tự như trên, không cần đối chiếu với tác phẩm gốc - thì - người xem vẫn có thể thấy bức “Vườn chuối” hồi hương là một bố cục hỏng. Cô gái nằm đọc sách như đang bơi trên một mặt nền vô định, một cô gái khác cũng đang ngồi đọc sách chơ vơ ở phía sau, gây cảm giác như ở một “chợ sách”.
Tính chất tâm tình của một thể loại sâu kín (“trong vườn”) đã hoàn toàn bị phá vỡ.
Một đường thẳng đứng (xem minh họa) đã bổ bố cục làm hai phần hoàn toàn cách biệt nhau (hay nói khác đi, liên kết ngang của bố cục đã hoàn toàn bị cắt đứt bởi đường thẳng vô hình đó) - là điều tối kỵ mà một người vẽ sơ đẳng nhất cũng không bao giờ phạm phải.
Đây có thể là một ví dụ điển hình cho lối làm tranh giả “bố cục trích đoạn”.
Vân vân và vân vân.

* * *

Tác phẩm nghệ thuật hình thành một cách bí ẩn. Đó cũng là một quá trình bí ẩn để ý tưởng của người nghệ sĩ biến thành tư tưởng.
Giống như một nhà soạn nhạc, để vẽ một bức tranh, người họa sĩ luôn luôn bắt đầu từ những “nét giai điệu” (dessin mélodique), và trên cơ sở đó, họ phải tìm ra các “thể thức”, các phương tiện phù hợp để phát triển và hoàn thiện thành tác phẩm. Đó cũng là một quá trình đồng bộ hóa mọi yếu tố (cảm xúc, hình, sắc, kỹ thuật), mà chỉ có tự người nghệ sĩ mới có thể thực hiện được.
Mô phỏng lại quá trình đó (quá trình đồng bộ hóa) - là bất khả thi. Và, chỉ có những tay làm giả cự phách mới chạm được tới ngưỡng “gần đúng”. Và, cũng chỉ có những chuyên gia cự phách mới có được khả năng phát hiện ra những sai lệch siêu nhỏ về “đồng bộ” - để lật tẩy chúng.
Bày tranh giả một cách công khai, diễn trò “cua-cá”, cho dù có thêu dệt nên những truyền thuyết ly kỳ đến đâu xung quanh những “bức tranh”, và cho dù có sự bảo đảm đến đâu của những ông Tây “lịch lãm”- thì những “bức tranh” ấy, trước sau, vẫn sẽ không thoát khỏi tấm gương chiếu yêu của nghệ thuật. Thật-giả ở đây đã rõ ràng, cãi chày cãi cối làm gì nữa cho thêm mệt!
... Người ta tin rằng: quỷ Sa-tăng có thể làm được mọi thứ hệt như Chúa đã làm, chỉ trừ sự sống. Có điều, “quỷ Sa-tăng”, ở đây - tại cuộc triển lãm “Những bức tranh trở về từ châu Âu” này - lại quá vụng về, quá thô thiển, chỉ làm “cái xác” mà cũng không nên.
--------------------
(Theo Tạp chí Mỹ thuật)

Nghệ thuật tạo hình thời Mạc

Phan Cẩm Thượng

Trong nền nghệ thuật Việt Nam, nghệ thuật thời Mạc (1527 - 1592) chiếm một vị thế rất riêng, có phong cách khác hẳn với tính nhịp điệu truyền thống của sáng tạo Việt Nam trước và sau đó.

Tượng Quan âm chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Nội), TK16, điêu khắc gỗ phủ sơn.

Nghệ thuật thời Mạc, cách đây gần 500 năm, nổi lên với phong cách tạo hình súc tích, có tính module, có sự đơn giản và quy về khối cơ bản, khiến người ta không khỏi ngạc nhiên về xúc cảm gần gũi với design công nghiệp hiện đại. Gọi là nghệ thuật thời Mạc, là vì những tác phẩm có niên đại thuộc về thế kỷ 16, trùng với triều đại nhà Mạc, nhưng cái phong cách nghệ thuật đó có thể xuất hiện ngay từ cuối thời Lê Sơ, thế kỷ 15, và tùy từng địa phương, phong cách đó vẫn kéo dài sang đầu thế kỷ 17, khi nhà Mạc không còn nữa. Lịch sử nghệ thuật sinh ra bởi thời đại của nó, nhưng không nhất thiết chồng khít lên thời đại đó, nó có tuyến tính lịch sử phát triển riêng, phụ thuộc vào cơ cấu nghệ thuật, có thể là phi chính trị.

Một cục diện lịch sử đặc biệt 

Sau khi chiến thắng quân Minh, năm 1427, giành độc lập dân tộc, Lê Lợi xây dựng triều đại nhà Lê Sơ, lấy Nho giáo làm tư tưởng thống trị thời đại và tổ chức xã hội. Bản thân Lê Lợi cũng là một địa chủ, nên việc phát triển làng xã và quan hệ địa chủ - nông dân là đương nhiên, thay cho chế độ điền trang thái ấp với quý tộc - nông nô thời Trần (1226 - 1400). Cái làng xã này sẽ được định hình và phát triển như tế bào căn bản của xã hội Việt Nam, nhất là về mặt phong tục tập quán và sản xuất nông nghiệp vào thời Mạc. 
Năm 1527, Mạc Đăng Dung, người nắm gần hết quyền lực trong triều đình Lê Sơ, nhất là về quân đội, đã tiến hành đảo chính, giết vua Lê, lập ra nhà Mạc. Những quý tộc Trịnh Nguyễn, chủ yếu ban đầu từ Nguyễn Kim và người con rể của ông là Trịnh Kiểm, đã tìm con cháu vua Lê, phò tá (tượng trưng) dấy binh từ Thanh Hóa, đánh lại nhà Mạc. Nguyễn Kim bị đầu độc chết, Trịnh Kiểm nắm toàn bộ binh quyền. Sau khi bình định nhà Mạc, năm 1592, họ Trịnh thiết lập chế độ vua Lê, chúa Trịnh, trong đó vua Lê chỉ là bù nhìn, toàn bộ quyền lực xã hội nằm trong tay chúa Trịnh. Tình hình trên khiến Việt Nam trong thế kỷ 16, 17 xảy ra hai cuộc nội chiến. Cuộc nội chiến Nam - Bắc triều, giữa nhà Mạc (Bắc triều) và vua Lê, cùng phe Trịnh Nguyễn (Nam triều), và cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh, sau khi con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng xin được vào Nam trấn thủ, thoát khỏi gươm đao họ Trịnh. Mặc dù nội chiến kéo đến hai trăm năm, nhưng làng xã vẫn phát triển, và đất nước được mở rộng liên tục về phía Nam do cuộc viễn chinh và lấn chiếm của nhà Nguyễn đối với các tiểu vương quốc Champa và các sắc tộc đồng bằng Nam bộ. Người phương Tây cũng bắt đầu vào Việt Nam thăm dò từ thế kỷ 16, và buôn bán từ thế kỷ 17. Đây là một cục diện đặc biệt, cho thấy những vấn đề chính trị, xã hội cốt yếu đã hình thành trong thế kỷ 16 như thế nào.

Điểm mặt di sản

Trong suốt một thời gian dài, khoa nghiên cứu mỹ thuật truyền thống đã xác định một số di tích thời nhà Mạc theo đoán nhận phong cách và văn bia, hoặc văn tự xác nhận niên đại. Di sản này chủ yếu bao gồm: sáu ngôi đình - đình Tây Đằng, đình Tường Phiêu (?), đình Thanh Lũng (?) (vùng Sơn Tây, Hà Tây cũ); đình Lỗ Hạnh, đình Phù Lưu và Thổ Hà (Kinh Bắc cũ); hai ngôi chùa - chùa Cói (Vĩnh Phú), chùa Trà Phương (Hải Phòng); và những di tích điêu khắc Phật giáo khác cùng đồ gốm Chu Đậu. 

 Chân đèn gốm thời Mạc

Về niên đại, cụ thể như sau: trên đình Lỗ Hạnh (Đông Lỗ, Hiệp Hòa, Bắc Giang) có ghi: “Đệ nhất Kinh Bắc… Sùng Khang… niên chính nguyệt” (1566 - 1577) và “Tuế thứ bình tý mạnh xuân tân tạo” (1576). Trên bức tượng bà Hoàng hậu chùa Trà Phương có đề: “Trung Nguyên Tân hợi sơ nhất nhật tạo tượng” và “Phúc Huyền chỉ phụng hành” [“Ngày 1 tháng 4 âm lịch năm Tân hợi (1551) ở Trung Nguyên tạc tượng, Phúc Huyền vâng chỉ làm”]. Bệ tượng Phật chùa Mễ Sở (Hưng Yên) ghi: “Diên Thành sơ niên” (1578). Tượng Quan âm Nam Hải chùa Phẩm (Đông Ngọ tự, Hải Dương) ghi: “Tân tạo Phật tượng, Nhất hội chủ, Tỳ khưu tự Chân Minh…(và nhiều người khác kê tên)… Diên Thành tuế thứ Nhâm ngọ ngũ niên, thập nhị nguyệt cốc nhật tạo” [“ Tỳ khưu tự Chân Minh đứng hội chủ, cùng một số tín chủ… vào ngày tốt, tháng 12 âm lịch năm Nhâm ngọ (1582) thuê người làm tượng này”]. 
Một số đồ gốm cũng có niên đại và tên người làm hoặc người cúng tiền. Còn hầu hết các di tích khác, được cho là sản phẩm của thời Mạc, là đoán định theo phong cách và những tương quan nghệ thuật, xã hội. Đứng về mặt khảo cổ học lịch sử nghệ thuật, điều này cần nghiên cứu thêm. Đây là một vấn đề lớn - việc nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam trong quá khứ rất thiếu tính khoa học, nhiều cảm tính, khi thời gian qua đi, hầu như người ta không muốn lục lại vấn đề nữa, mà cứ đương nhiên coi di tích này thuộc về thời đại này, thế kỷ kia. Rất may, riêng nghệ thuật thời Mạc, có rất nhiều chứng cứ ghi niên đại như trên. Những mảnh vụn khác cho thấy sự gần gũi về phong cách và tính chất cổ kính của di sản có thể chấp nhận được là thuộc về thời Mạc.
Vào những năm 1980, nhà nghiên cứu Trần Lâm Biền đã đưa ra hiện tượng Quan âm thời Mạc. Ông nhận định rằng thời kỳ này xuất hiện rất nhiều các pho tượng Quan âm Nam Hải, Quan âm Chuẩn đề và nhiều loại tượng Quan âm khác. Ông cũng cho rằng đây là thời kỳ nhiễu loạn do nội chiến, lòng người bất an, xã hội nhiều khi lâm vào đói kém, nên người ta cầu đến hình tượng Phật bà Quan âm có năng lực cứu độ chúng sinh, và rồi đỉnh cao của sự sùng bái hiện tượng Quan âm trong thế kỷ sau (17) là tượng Phật bà Quan âm Nghìn mắt nghìn tay, như Quan âm chùa Bút Tháp (1656). Trần Lâm Biền dẫn ra một số pho tượng Quan âm cụ thể như: Quan âm Nam Hải chùa Hạ (Vĩnh Phú), Quan âm chùa Bối Khê (Thanh Oai, Hà Tây cũ), Quan âm chùa Hun (Côn Sơn, Hải Dương), Quan âm chùa Phẩm nói trên… 

Đặc điểm thẩm mỹ 

Thẩm mỹ hình học thời nhà Mạc cho thấy sự giản đơn, súc tích gắn liền và sinh ra từ cảm thức của người nông dân.

Bà Hoàng hậu Trà Phương, chùa Trà Phương, Hải Phòng - tượng đá tô màu, thế kỷ 16.
Ảnh tư liệu: Nguyễn Anh Tuấn

Tượng vua Mạc Đôn Nhượng, chùa Nhân Trai, Hải Phòng - tượng đá tô màu, thế kỷ 16. 
Ảnh tư liệu: Nguyễn Anh Tuấn

Nếu nhìn thoáng qua, cách thức tạc tượng thời Mạc rất thô phác, từng phần được quy vào khối riêng biệt và lắp ráp thành pho tượng, như Quan âm chùa Hạ, chia rõ thành các phần: đầu, mình, chân, bệ tòa sen, bệ đỡ hình hộp, hai pho tượng nhỏ Kim đồng, Ngọc nữ gắn rời, khối 42 tay chia đều cho hai bên thân cũng gắn theo trục thân. Sự chuyển khối rất đột ngột, các đường cong cơ thể không được chú trọng, mà các phần khối dường như được đẽo vuông vức có tính hình học cao, lắp ghép vào nhau. 
Cái đặc điểm thẩm mỹ hình học này phổ biến trong chạm khắc trang trí đình làng thời Mạc, tượng chân dung thờ vua, hoàng hậu và các bà chúa, các bệ tượng Phật, các chân đèn thờ bằng gốm… tất cả được quy khối, có thể tháo lắp thành từng phần riêng biệt. Phương pháp này về sau ảnh hưởng đến toàn bộ điêu khắc gỗ và đất phủ sơn ở Việt Nam, theo cách làm từng phần rời và lắp ráp, tuy nhiên xu hướng khối hình học chỉ thịnh hành trong thời Mạc mà thôi. Thời Lý và Trần, nghệ thuật luôn ở các trung tâm lớn, phong cách nghệ thuật mang tính phổ quát, tất cả di tích trong nước thống nhất một cách thức sáng tác và thẩm mỹ, không có phong cách địa phương. Thời nhà Mạc, làng xã đã hưng thịnh, nghệ thuật không còn bị độc quyền bởi Phật giáo nhà nước như thời Lý Trần, mà phụ thuộc vào yêu cầu tín ngưỡng cũng như khả năng kinh tế của từng làng. Phong cách địa phương xuất hiện, mỗi nơi, mỗi chùa một cách thức, duy chỉ có thẩm mỹ hình học là mang tính phổ quát, cho thấy sự giản đơn, súc tích gắn liền và sinh ra từ cảm thức của người nông dân. Ngay cả những chân dung vua nhà Mạc và hoàng hậu chùa Trà Phương cũng không nằm ngoài phong cách này, chúng cho thấy triều đình nhà Mạc xuất thân hoàn toàn từ nông dân, ưa chuộng ăn mặc ở kiểu nông dân dù họ đã làm vua chúa.
Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đỗ Cung, khi nghiên cứu chạm khắc trang trí đình làng Việt Nam, đặc biệt là đình Tây Đằng, ông nhận thấy có ba kỹ thuật chạm khắc phổ biến: chạm nông, chạm bong và chạm lộng. Ông và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng phần nào ba kỹ thuật này tương ứng với ba thế kỷ phát triển của đình làng từ thế kỷ 16, 17, 18. Đình Tây Đằng và chùa Cói có những bức chạm nông - chạm khắc trên mặt phẳng tấm gỗ, với độ cao của phù điêu vừa phải, không xuyên thủng hay có lớp bên trong. Tuy nhiên chúng tôi thấy chạm khắc trang trí kiến trúc phụ thuộc vào những thành phần chịu lực hay không, ở nơi chịu lực đỡ nhiều thì chỉ có thể chạm nông, ở nơi ít hoặc không chịu lực thì mới có thể chạm bong và chạm loọng. Thế kỷ 17, đỉnh cao của điêu khắc và kiến trúc đình làng, kỹ thuật chạm bong nhiều lớp rất phổ biến, tất nhiên phát triển từ cách thức chạm khắc đơn giản thời Mạc. 
Mặc dù khái niệm design, thẩm mỹ công nghiệp mới có từ những năm 1960 trở lại đây, nhưng khoa thiết kế của con người có từ thời cổ xưa, gắn liền với chế tác đồ dùng và đồ thờ. Những triều đại phong kiến có xu hướng định thể chế văn hóa và vĩnh cửu hóa đều có ý thức sâu sắc đối với những công trình để đời. Đền đài, cung thất và đồ dùng của họ được thiết kế cẩn thận sao cho mang một phong cách triều đại riêng biệt, vừa gắn với quá khứ truyền thống, vừa đưa ra kiểu thức mới. Con rồng yên ngựa (hình con rồng có lưng rộng và võng như yên ngựa) thời Mạc là một cách thức biểu tượng của triều đại xuất thân từ nông dân này. Có thể nói khoa tạo dáng thời Mạc rất thành công trong việc tạo ấn tượng thị giác, nó kế thừa tính thô mộc, mạnh mẽ của nghệ thuật thời Trần, sự giản dị và dân gian thời Lê Sơ, để định ra một kiểu thức riêng cho mình và triều đại phong kiến nhà Mạc.
Tất nhiên tính thô phác và thẩm mỹ công nghiệp là hoàn toàn khác nhau. Con người ngày nay không tài nào thô phác như con người ngày xưa. Thế kỷ 16 kém thô phác hơn thế kỷ 15, thế kỷ 15 kém thô phác hơn thế kỷ 14, cứ thế càng tiến tới hiện đại, sự tinh khéo càng tăng lên, nhưng cái bản chất chân thật càng phai nhạt và xa hơn với bản chất nhân văn của con người. Nên có nhà lịch sử, mà tôi không nhớ được tên, đã nói: Càng phát triển con người càng khó khăn hơn trong việc đục thủng những tầng văn minh đã qua, để quay lại với hạt nhân nguyên thủy.
--------------------

Họa sĩ Đinh Ý Nhi và câu chuyện chất liệu

Giáng Vân
(Nhân xem triển lãm “ Hạnh phúc bé nhỏ của tôi” của họa sĩ Đinh Ý Nhi, tại 24 Lý Quốc Sư, Hà Nội)


Đen và trắng. Rồi chuyển sang màu. Nhưng rất ít màu.
Thoạt đầu là bột màu. Rồi sơn dầu. Sơn dầu rất lâu. Phải đến gần 20 năm dành cho sơn dầu, trên giấy dầu, trên toan… Rồi bỗng một ngày chị xuất hiện với một bất ngờ lớn: hơn 30 bức giấy dó cực kỳ hoành tráng.


Thực ra, với nghệ sĩ, câu chuyện chất liệu luôn là mối quan tâm rất đặc biệt. Họ sáng tác trên chất liệu nào cũng là cả một con đường tìm kiếm, giống như đi tìm kiếm cái tôi của mình.
Có người chỉ vẽ sơn mài mới ra được mình, có người chỉ tung hoành với sơn dầu, chỉ thấy vẽ sơn dầu mới đã. Lại có người, dù vẽ nhiều thứ, nhưng anh chỉ thú vị nhất khi vẽ giấy dó.
Người ta nói, đó là hợp tạng. Như tạng nhà văn chỉ viết được truyện ngắn, hay nhà thơ chỉ hợp với thơ tự do.
Thấy Nhi bỗng vẽ giấy dó mới lại ngồi trò chuyện về câu chuyện chất liệu.
Hỏi: “ chắc vứt đi cũng nhiều?’
“Tất nhiên rồi, để em kể, có lần đang ở cửa hàng chọn giấy, có một cô gái trẻ, tiến lại hỏi em: “ Chị ơi, em có thể đến nhà chị để xin chị chỉ cho em vài điều về giấy dó được không ạ?” Em cười và bảo, em ơi, chẳng ai chỉ bảo được cho ai cả, em cứ mua một nghìn tờ giấy dó này, về vẽ hết, sẽ tự tìm thấy câu trả lời.”
Chắc cô bé thất vọng nhưng đó là sự thật.


Cách đây khoảng mười năm, Nhi cũng từng có ý tưởng thử vẽ giấy dó, nhưng rồi chưa khi nào thực hiện. gần đây, trở lại ý tưởng này nhân họa sĩ Hoàng Phượng Vĩ rủ triển lãm chung.
Mỗi lần mua chừng hai trăm tờ giấy dó, vẽ hết lại mua tiếp. Lúc đầu, số vứt sọt rác chiếm 95%, chỉ vài tờ còn được giữ lại. Sau, số được giữ lại nhiều dần lên… Sau hai năm, theo cách nói của họa sĩ, thì chị đã lờ mờ hiểu được về giấy dó, ít nhiều, làm chủ được nó. 
Tuy nhiên, giấy dó, loại chất liệu có một lợi thế mà nhiều họa sĩ giấy dó hay sử dụng, là tính chất loang nhòe, dễ tạo xúc cảm cho tranh, thì theo Đinh Ý Nhi lại phải vô cùng cảnh giác. Không cẩn thận, họa sĩ sẽ dễ dãi, không khai thác được hết ý, hết chiều sâu, dễ bằng lòng với mình. Và họ rất dễ bị lẫn vào nhau, thiếu cá tính.
Phát hiện này, theo tôi, là một phát hiện rất Đinh Ý Nhi, ở chỗ, dù là vẽ chất liệu gì, điều quan trọng là tìm được con đường riêng.
Mới nhìn lại triển lãm giấy dó của Nhi, hoàn toàn không chút nào lạm dụng tính nhòe, mờ, lan tỏa của giấy dó, vẫn là Nhi trong từng nét bút, sắc sảo, tung tẩy, thoải mái, tựa như không bị sự nhòe của chất liệu cản trở. 
Hóa ra, mất hai năm để làm chủ giấy dó chính là như vậy.


Lại hỏi Nhi: “ Vậy thì Nhi vẽ trên chất liệu nào thì khó hơn?” “ Sơn dầu vẫn là khó nhất. Hơn hai mươi năm rồi, vẫn thấy khó, vì nó nặng, bết, và trơ. Xử lí được những tính chất đó không dễ tí nào.”
“ Giấy dó có lẽ dễ hơn, nhưng cái chính, vẫn là vẽ thế nào cho hay mới là khó. Loang, nhòe có thể cứu vãn cái yếu của hình họa, dễ ru ngủ họa sĩ. Để tránh được điều này, anh phải tiên liệu được, nét vẽ phải dứt khoát, kiên quyết.”
Theo Nhi, quan trọng là, phải mở được biên độ của chất liệu. Phải nhìn thấy những khả năng biểu đạt khác trên chính những khả năng đã được gần như mặc định cho chất liệu giấy dó.
Vượt qua tính loang, nhòe, thế mạnh của giấy dó, nhưng cũng là bất lợi, dễ bị rơi vào sến sẩm. Đinh Ý Nhi đã mang đến cho giấy dó một khả năng biểu đạt mới, mà trước đó tôi chưa thấy ở họa sĩ giấy dó nào.
Trước đây, thấy Đinh Ý Nhi cứ vẽ mãi đen trắng, hỏi: “ Khi nào thì Nhi thôi không đen trắng nữa?”
“ Em thấy vẫn đi chưa đến tận cùng, vẫn còn hứng thú nên cứ đi thôi! Khi nào thấy thỏa mãn, thấy hết hứng thú, thì sẽ dừng lại…”


Là như vậy.
Điều kỳ diệu ở Nhi là niềm đam mê miệt mài, không mệt mỏi. không chùn bước, là tiếng cười sảng khoái khi nói lên một suy nghĩ nào đó của mình.
Trong hai năm giấy dó, Nhi hầu như bỏ quên mọi thứ khác. Các con của chị phải tự xoay xở tự lo cho mình. Chị tự tối giản mọi nhu cầu cho bản thân, trừ đôi khi thư giãn, cho phép mình đi chơi.
Tất nhiên, trong triển lãm này, không chỉ có câu chuyện chất liệu. Nhưng người viết thấy riêng nó, cũng đã nói được điều gì đó rất Đinh Ý Nhi.
--------------------